Những thành tựu của Sóc Trăng sau một nhiệm kỳ. 14/10/2020 | 09:31. Khánh thành và đưa vào sử dụng Bệnh viện chuyên khoa Sản - Nhi gần 800 tỉ đồng chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng. Trong nhiệm kỳ qua (2015 - 2020), các ngành, các cấp trong tỉnh Sóc Trăng đã quán Chiến lược kinh doanh của Thiên Long là chinh phục một mục tiêu lớn hơn: trở thành công ty văn phòng phẩm số 1 tại Đông Nam Á và hàng đầu Châu Á. Bộ sản phẩm dụng cụ học tập Điểm 10 của Thiên Long rất đa dạng, bao gồm: bảng, phấn, thước kẻ, bút chì, gôm tẩy Chương trình nghị sự của Lễ Giới Thiệu Thành Tựu Sơ Bộ Công trình Phiên dịch và Ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam như sau: 1/ Niệm Phật, giới thiệu chư Tôn Đức, quan khách tham dự và thông qua chương trình (TT Thích Nguyên Tạng điều hợp chương trình) 2/ Hòa Thượng Chánh Thư Ký Thích Như Điển tuyên bố khai mạc. Nền văn hoá cổ đại Phương Đông hình thành ở lưu vực những con sông lớn: Ai Cập (Sông Nin) Trung Quốc ( Hoàng Hà, Trường Giang)…. Các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời từ cuối thiên niên kỉ IV đến đầu thiên niên kỉ III TCN. Đó là những quốc gia xuất hiện sớm Chính xác hóa các kiến thức đã hình thành cho học sinh. 1. Quá trình hình thành xã hội phong kiến ở châu Âu. - Nữa cuối thế kỉ V, các tộc người Giéc-man xâm chiếm tiêu diệt đế quốc Rô-ma. - Thành lập nhiều vương quốc mới. - Xã hội: chia làm 2 giai cấp: + Lãnh chúa phong kiến. + Nông nô. => Xã hội phong kiến ở châu Âu hình thành 2. cADUhsb. *Những thành tựu khoa học tự nhiên của Ai Cập cổ đạiCơ sở hình thành Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ quan sát. Mực nước lên xuống của sông Nile, có hai mùa nước dâng hạ. Nhu cầu về nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc ruộng đất, tính toán thuế khoá. Nhu cầu về tôn giáo, những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu trời để đưa ra lễ, luật cúng học Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và thực tế cuộc sống của người Ai Cập, phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số và hình học. Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, tính toán vật liệu xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc,… là những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời. Thiên niên kỷ III trước Công nguyên xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về các con niên kỷ II trước Công nguyên phát triển thành công hệ đếm, nhưng vẫn chưa sáng tạo ra số 0, cho nên khi đếm đến 10, họ đã lấy một đoạn dây thừng để ghi nhớ, đến 1000 thì vẽ cái cây Hệ số thập phân cơ số 10, chưa có số 0, biết làm các phép cộng và trừ, còn nhân và chia thì thựchiện bằng cách cộng và trừ liên số giải phương trình bậc nhất, tìm ra cấp số cộng và cấp số nhânHình học Tính diện tích hình vuông, chữ nhật, hình thang, tam giác, tứ giác, diện tích hình cầu,... Tính được số π = 3,16 và bước đầu biết đến tính chất đồng dạng Biết tính thể tích của hình lăng trụ, lập phương…Số học Thành tựu đầu tiên là phép đếm theo cơ số 10, các chữ số cũng được dùng chữ tượnghình để biểu thị và chưa tìm ra con số 0. Biết tính cộng trừ, nhưng phép nhân và chia được hiểulà công trừ liên tiếp Biết căn cứ khả năng nhân đôi của một số . Căn cứ khả năng lấy 2/3 của mộtsố. Thiên văn học Để nắm vững được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho canh tác nôngnghiệp, ở Ai Cập đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp. Với những dụng cụ hết sức thô sơ như sợi dây dọi, mảnh ván có khe hở, ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu trời cả ngày lẫn đêm, theo dõi sự lên xuống của mực nước sông Nile . Thông qua đó họ cũng xác định được bản đồ của 12 cung hoàng đạo có từ thời Vương triều XIV,vẽ được chòm sao Bắc cực và biết đến hành tinh trong Thái Dương hệ. Đặc biệt để có thể xác định thời gian ban ngày, người Ai Cập đã sáng tạo được cái để đo thời gian ban ngày gọi là Nhật Khuê, giúp người Ai Cập biết được thời gian chính xác biết được các hành tinh khác như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Sớm phát hiện ra các chòm sao, soạn ra bản đồ các thiên thể, nó được vẽ lên trần của các đền đài cổ. Việc tính toán vị trí các ngôi sao trên trời và việc phát minh ra đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước là những thành tựu quan trọng ở thời Tân vương quốc. Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế khi trong thời gian ban đêm và trờimưa không có nắng vì vậy vào ban đêm họ sử dụng dụng cụ để đo thời gian gọi là đồng hồ Sơ lược về Thiên Văn HọcCó thể nói thiên văn là ngành khoa học tự nhiên đầu tiên của nhân loại, khi con người đã qua thời kỳ đồ đá và tự biết trồng trọt, chăn nuôi để phục vụ đời sống thì khát khao tìm hiểu và bản tính tò mò đã thúc đẩy nhân loại ngắm nhìn bầu trời và cố gắng tìm ra những điều hay ho ẩn chứa nơi tận cùng của hiểu biết của nhân loại về thế giới tự nhiên còn hạn chế thì các thượng đế luôn được cho là nguyên nhân của tất tần tật mọi thứ trên đời, bao gồm cả những gì con người quan sát được trên bầu trời huyền bí kia. Lập luận về thượng đế chi phối bầu trời càng được củng cố khi chúng ta không thế với tới được khoảng không bao la phía trên mình mà chỉ có thể cảm nhận bằng thị giác. Thế nên mục đích ban đầu của việc quan sát bầu trời là giao tiếp với thần linh và đưa ra những lời dự đoán mang tầm vĩ mô cho tương lai tinh là sản phẩm của việc quan sát thiên văn để cố gắng kết nối với thần linh, một thời chiêm tinh được xem là một bộ môn khoa học cho đến khi thống kê được áp dụng để xử lý những dữ liệu quan sát được từ bầu trời thì người ra nhận ra chiêm tinh không còn phù hợp với sự phát triển nhân loại nữa. Nguồn ảnh VoxKhi các nhà quan sát cảm thấy lý thuyết về thần linh không còn phù hợp nữa và khoa học thống kê được áp dụng vào việc quan sát thì ngành Thiên Văn Học mới bắt đầu được khai sinh. Những thành tựu ban đầu của Thiên Văn Học là việc tính toán được quỹ đạo của các thiên thể và dự đoán được thời gian, địa điểm xảy ra các hiện tượng thiên trí tuệ của nhân loại được nâng cao và trình độ kỹ thuật nhảy vọt thì Thiên Văn Học cũng bắt đầu trở mình với các ý tưởng và thành tựu đột phá. Và giờ đây ta gọi nó là “Thiên Văn Học hiện đại”.Thành tựu hữu hình của Thiên Văn HọcNhững thành tựu đầu tiên của Thiên Văn Học là sự hiểu biết của nhân loại về quỹ đạo các thiên thể, chu kỳ của các hiện tượng thiên văn hay là vị trí tương đối của các ngôi sao trên bầu trời về sau phát triển thành bản đồ sao – đây là một di sản vô giá của Thiên Văn Học cổ điển.Đối với Thiên Văn Học hiện đại, các quan sát thiên văn đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các thế giới chúng ta chưa từng được đặt chân tới. Cũng chính Thiên Văn Học đã mở đường cho con người chinh phục những chân trời mới, đưa con người đi đến những nơi không tưởng. Nói đến những thứ này nghe có vẻ khá xa vời và sẽ có một số người cho rằng việc đó không thực sự cần thiết vì nó không giúp chúng ta cải thiện được những vấn đề tồn đọng trên hành tinh chúng ta đang sống. Nhưng có bấy nhiêu người biết rằng chính nhờ những thành tựu của Thiên Văn Học làm nền tảng mà chúng ta có thể có thể xây dựng được một thế giới phẳng như ngày nay. Mấu chốt ở đây chính là hệ thống vệ tinh giúp chúng ta có thể định vị và kết nối thông tin xuyên lục địa trong chưa đầy một thống vệ tinh giúp con người kết nối chính là thành tựu rõ nhất của Thiên Văn Học nhưng không được nhiều người để ý đến. Nguồn ảnh NASANhưng...Các thành tựu vô hình của Thiên Văn Học mới là thứ định vị Thiên Văn trong nền tri thức nhân loại. Thuở sơ khai nhân loại nghĩ rằng nơi mình sống là cái rốn của vũ trụ và Trái Đất có được nền văn minh là do sự ưu cái của các thượng đế. Nhưng chính nhờ những thành tựu trong Thiên Văn Học đã giúp chúng ta xác định lại vị trí của mình trong vũ trụ này. Đơn giản, chúng ta chỉ là một hành tinh nhỏ bé trong một Hệ Mặt Trời vĩ cũng đến khi sự quan sát vũ trụ được trợ sức bởi công nghệ thì chúng ta mới biết được Vũ Trụ này vô tận như thế nào và Hệ Mặt Trời được xem là vĩ đại trong vài thế kỷ trước cũng chỉ là một hạt cát của một sa mạc rộng lớn mang tên Ngân Hà và cái sa mạc rộng lớn ấy cũng chỉ như một phân tử nước trong đại dương Vũ Trụ. Điều này đã cho chúng ta biết nhân loại nhỏ bé đến chừng nào và sự tồn tại của nền văn minh trên Trái Đất cũng không phụ thuộc vào sự ưu ái của thế lực siêu nhiên nào vũ trụ là bao la thế đấy, nhưng chúng ta vẫn chưa tìm thấy được bất kỳ nền văn minh nào mà chúng ta có thể liên lạc. Và Trái Đất chính là nơi duy nhất đến lúc này chúng ta biết rằng có thể tồn tại một nền văn minh. Bức ảnh dưới đây là chân dung của Trái Đất ở khoảng cách 6,4 tỷ km vào năm 1990 bởi tàu Voyager 1 là minh họa chân thực nhất về sự ưu ái mà tạo hóa chứ không phải thượng đế đã dành cho Trái Đất. Thiên Văn Học đã giúp chúng ta nhận ra sự ưu ái này và nhiệm vụ của chúng ta giờ đây là bảo vệ nó, hãy dành những thời gian ngắn ngủi của một đời người cũng như thời gian tồn tại của nhân loại để mang lại những điều tốt đẹp nhất dành cho nhau, để xứng đáng với những gì chúng ta đã nhận được từ tạo hóa thay vì tranh giành từng tất đất, phá hủy sự sống thiên liêng và mỏng manh đang tồn tại trên Trái 1990 Carl Sagan đã đề nghị NASA xoay tàu Voyager 1 để chụp lại hình ảnh Trái Đất, hình ảnh này được đặt tên là "Pale Blue Dot" - tức đốm xanh mờ. Đốm xanh ở gần trung tâm bức ảnh chính là Trái Đất của chúng ta. Nguồn ảnh NASATôi xin mượn lại câu nói huyền thoại của Carl Sagan về bức ảnh Pale Blue Dot để diễn tả một phần nào những giá trị vô hình mà Thiên Văn Học đã mang lại cho chúng điểm xa xôi này, Trái Đất dường như chẳng có gì đặc biệt để phải quan tâm. Nhưng với chúng ta, nó thực sự khác biệt. Tại đó có tất cả những người bạn yêu thương, tất cả những người bạn biết, tất cả những người bạn từng nghe qua, tất cả những người đã từng tồn tại và đã sống hết mình cho cuộc đời của Đất chỉ là một võ đài nhỏ trong một đấu trường vũ trụ khổng nghĩ về những dòng máu đã đổ xuống do những đại tướng và những hoàng đế trong sự vinh quang và chiến thắng để họ có thể trở thành một người chủ nhất thời của một phần nhỏ trong đốm nhỏ tôi, đó là lời nhắc cho nhiệm vụ của chúng ta rằng phải sống tử tế hơn với mọi người và bảo tồn, trân trọng Đốm xanh mờ này, ngôi nhà duy nhất của chúng ta! Nguồn Historic figures, BBC Biên dịch Trần Mẫn Linh Galileo Galilei 1564 – 1642 là một nhà thiên văn học, nhà vật lý và triết gia người Ý có sức ảnh hưởng lớn. Galileo Galilei sinh ngày 15/02/1564 gần Pisa và là con của một nhạc sĩ. Ban đầu, ông theo học ngành y tại Đại học Pisa nhưng sau đó đã đổi sang triết học và toán học. Năm 1589, Galileo trở thành giáo sư toán học tại Pisa, nhưng tới năm 1592, ông đã chuyển sang làm giáo sư toán tại Đại học Padua và giữ vị trí này cho đến năm 1610. Trong thời gian này, ông đã thực hiện nhiều thí nghiệm, bao gồm thí nghiệm về tốc độ rơi của các vật thể khác nhau, cơ học và con lắc. Năm 1609, Galileo đã nghe về phát minh kính viễn vọng ở Hà Lan. Mặc dù không được nhìn thấy bản mẫu, song ông đã phát triển một phiên bản ưu việt và thực hiện nhiều khám phá thiên văn. Đó là khám phá về những dãy núi và thung lũng trên bề mặt của mặt trăng, các vết đen mặt trời, bốn mặt trăng lớn nhất của sao Mộc và các pha của sao Kim. Thành tựu của ông về thiên văn học đã khiến Galileo trở nên nổi tiếng và được bổ nhiệm làm nhà toán học của triều đình ở Florence. Năm 1614, Galileo bị buộc tội dị giáo vì ủng hộ thuyết nhật tâm của Copernicus. Điều này mang tính cách mạng vào thời điểm đó khi hầu hết mọi người tin rằng Trái đất mới nằm ở trung tâm hệ mặt trời. Năm 1616, ông bị nhà thờ cấm giảng dạy hoặc tuyên truyền thuyết này. Năm 1632, ông bị kết tội dị giáo một lần nữa sau khi cuốn sách Dialogue Concerning the Two Chief World Systems’ Đối thoại về hai hệ thống thế giới chính được xuất bản. Cuốn sách đã đưa ra các lập luận ủng hộ và phản đối lý thuyết của Copernicus dưới hình thức một cuộc thảo luận giữa hai người. Galileo đã bị triệu tập đến Tòa án Rome. Ông bị kết tội và nhận án tù chung thân, sau đó được giảm xuống quản thúc vĩnh viễn tại gia ở biệt thự của ông tại Arcetri, phía nam Florence. Bên cạnh đó, ông cũng bị buộc phải công khai rút lại sự ủng hộ của mình đối với thuyết nhật tâm của Copernicus. Mặc dù lúc đó sắp bị mù song Galileo vẫn tiếp tục viết. Năm 1638, cuốn sách Discourses Concerning Two New Sciences’ Những thuyết trình về hai ngành khoa học mới đã được xuất bản, trong đó trình bày những ý tưởng của ông về các định luật chuyển động và các nguyên lý cơ học. Ngày 08/01/1642, Galileo qua đời tại Arcetri. 13/02/1633 Galileo tới Rome, đối mặt Tòa án dị giáo Các thành tựu thiên văn học từ giữa thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 191. Messier thành lập danh mục 103 tinh vân 1781 Charles Messier 26/06/1730 – 12/04/1817sinh ra ở miền Badonviller, vùng Lorraine nước Pháp. Ngay từ thời thiếuniên, niềm đam mê với thiên văn học của Messier đã đươc khơi dậy qua sự xuất hiện của sao chổi 6 đuôi năm 1744và hiện tượng nhật thực ngày 25/07/1748. Năm 1751, ông được nhận vào giúp việc cho nhà thiên văn hải quânPháp Joseph Nicolas Delisle. Quan sát thiên văn đầu tiên với tư cách chuyên nghiệp của Messier là sự kiện SaoThủy đi ngang qua Mặt Trời ngày 06/05/ 1774, Messier xuất bản danh mục đầu tiên bao gồm 45 "deep sky object" các thiên hà, tinh vân hoặcđám sao. Messier tiếp tục hoàn thiện và năm 1781, phiên bản cuối cùng của danh mục này ra đời với 103thiên thể. Trên thực tế, rất nhiều thiên thể trong danh mục của Messier là do người cộng sự của ông PierreMechain tìm ra. Trong thời gian từ năm 1921 đến năm 1966, một số nhà thiên văn học và sử gia đã tìm ra cácbằng chứng cho thấy rằng có thêm 7 thiên thể khác đã được Messier, hoặc là các bạn của ông, hoặc làPierre Mechain phát hiện ngay trước lần xuất bản cuối cùng. Các thiên thể đó được đánh số từ M104 đếnM110. Danh mục của Messier vẫn được sử dụng rộng rãi trong thiên văn học hiện đạiMặc dù danh mục Messier không trình bày các danh mục một cách khoa học như trong danh mục NGC, các thiênthể được sắp xếp theo vị trí trên bầu trời, tuy nhiên các thiên thể trong danh mục đã bao gồm đủ các loại tinh vân,thiên hà, đám sao mở, đám sao hình cầu, ... Do được xác định bởi một kính thiên văn cỡ nhỏ 102 mm nên cácthiên thể này đều rất gần Trái Đất và thường được chọn là là đối tượng trong các quan sát thiên văn chuyên nghiệpcũng như nghiệp dưTên ông được dùng để đặt cho một crater Các hố lõm tạo bởi các vụ va chạm của thiên thạch lên trên bề mặt thiênthể, của bụi vũ trụ lên vỏ các phi thuyền vũ trụ. trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh asteroid 7359 MessierMột số thiên thể Messier là các thiên hàM33M81M101M104Một số khác là các tinh vânM1 Tinh vân Con CuaM27M57tinh vân chiếc nhẫnM782. Sir Frederick William Herschel phát hiện ra Sao Thiên Vương 1781 vàKhám phá ra tia hồng ngoại 1800Sir Frederick William Herschel, 15 tháng 11, 1738 – 25 tháng 8, 1822 là nhà thiên văn học người Anh gốc Đức,chuyên gia về kỹ thuật, và nhà soạn nhạc. Sinh ở Hanover Đức, Wilhelm theo cha gia nhập vào quân đội củaHannover, nhưng sau đó nhập cư vào Anh ở tuổi 19. Vào tháng 5 năm 1773, ông mua được cuốnsách Astronomy của Ferguson. Nhờ cuốn sách này ông cảm thấy hứng thú với khoa học và đặc biệt là thiên văn. Từnăm 1774, ông đã có đầy đủ kỹ năng để chế tạo các loại kính thiên văn với các thấu kích xạ tuyệt hảo hơn bất kì cáinào được sản xuất trước đó. Cũng kể từ đây ông bắt đầu quan sát các thiên thể trên bầu 13 tháng 3 năm 1781, trên kính viễn vọng nhỏ của mình phát hiện một thiên thế lạ chuyểnđộng ngược chiều với các vật thể khác, ban đầu ông nghĩ nó là sao chổi, nhưng sau khi tính toán và xem xétkĩ ông mới xác định đó là một hành tinh mới - Thiên Vương tinh. Kể từ đây hành tinh ngoài cùng hệ MặtTrời không còn là Hỏa Tinh nữa mà là Thiên Vương tinh. Nhờ đó ông được bầu là thành viên của Hội Hoàng GiaAnh và được nhận giải thưởng hằng năm của Vua nước Anh và ông còn được vua George III phong là nhà Thiênvăn của triều 1789 Herschel sử dụng chiếc kính thiên văn phản xạ với gương cầu và tiêu cự để quan sát cácngôi sao trong nhiều tinh vân khácNăm 1800 , ông dùng lăng kính để tán xạ ánh sáng từ Mặt Trời và khám phá ra tia hồng ngoại có bước sóngdài hơn ánh sáng, nằm ngoài vùng ánh sáng có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Ngày này, các nhà thiên vănhọc quan sát vũ trụ theo nhiều cách khác nhau, từ sóng vô tuyến đến tia gamma trên quang phổ điện hồng ngoạiNăm 1802, lập xong một danh mục sao với hơn 2500 tinh vân và các quần sao cũng phát hiện ra hai vệ tinh của Sao Thổ Ngoài sở thích thiên văn học, Herschel cũng thích âm nhạc vớikhoảng 24 bản giao hưởng do ông sáng tác nhưng ít được biết đến. . Ông được trao tặng huy chương Copley củaHội Hoàng Gia Luân Đôn3. Quang phổ học được ứng dụng lần đầu tiên đầu thế kỷ 19Kỹ thuật quang phổ sử dụng ánh sáng truyền qua một vật thể trung gian lên một bề mặt, nhằm tạo ra một dảimàu sắc khác nhau. Trong đó, các thành phần có bước sóng khác nhau sẽ tạo ra các vạch màu khác trình này giúp xác định được thành phần của các vật thể trong vũ trụ, thậm chí ở khoảng cách rất xaTrái ĐấtKỹ thuật quang phổ được phát minh vào đầu thế kỷ 19 bởi Joseph von Fraunhofer 6 tháng 3 năm 1787 - 7tháng 6 nam 1826 là một nhà vật lý quang học người Đức. Ông được biết đến nhờ công lao khám phá ra phổ hấpthụ của ánh sáng Mặt Trời, một khám phá đã tạo nền tảng cho việc chế tạo ra kính quang phổ và các kính viễn vọngtiêu sinh tại Straubing. Ông trở thành trẻ mồ côi khi mới 11 tuổi và trở thành người học việc cho một thợ làmkính khó tính tên là Philipp Anton Weichelsberger. Năm 1801, cửa hàng kính ông làm bị sụp và Fraunhofer bị lấptrong đống vụn. Fraunhofer sau đó được Maximilian IV Joseph, một hoàng thân vùng Bavaria, thực hiện ca phẫuthuật cứu sống. Sau đó vị hoàng thân này cung cấp cho Fraunhofer sách và bắt người làm thuê của ông ta đểFraunhofer thời gian học tám tháng học, Fraunhofer tới làm tại viện quang phổ ở Benediktbeuern, một thầy tu dòng Benedic đã truyềndạy cách làm kính cho ông, sau đó Fraunhofer khám phá ra cách chế tác ra các loại kính quang phổ tốt nhất thế giới,ông đã lập ra các phương thức để đo độ tán sắcNăm 1818, Fraunhofer trở thành giám đốc viện quang phổNhờ các dụng cụ quang phổ tốt mà ông đã phát triển, Bavaria Bayern đã vượt qua nước Anh để trở thành trungtâm của ngành công nghiệp quang 1822 ông giành được học vị tiến sĩ tại Đại học ErlangenNăm 1824, ông được trao huân chương danh dự, trở thành một quý tộc và một công dân danh dự của MünchenÔng qua đời năm 1826 ở tuổi 39 do nhiễm độc hơi hoá học từ kim loại nặng trong quá trình làm kính4. Lần đầu tiên đo khoảng cách bằng đơn vị năm ánh sáng 1838 Friedrich Wilhelm Bessel 22 tháng 7, 1784 – 17 tháng 3, 1846 sinh tại Đức là một nhà toán học và thiên văn họcBessel được coi là nhà một trong những nhà thiên văn học đầu tiên sử dụng phưng pháp đo thị sai để tính ra khoảngcách đến các ngôi saoNăm 14 tuổi, Bessel vào làm việc cho hãng xuất – nhập khẩu Kulenkamp và nhanh chóng trở thành kế toán củahãng. Do phải thường xuyên đi theo các tàu hàng nên Bessel đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề định hướng tronghàng hải, từ đó ông trở thành một nhà thiên văn học chuyên đã được một nhà thiên văn học nổi tiếng người Đức lúc bấy giờ là Heinrich Wilhelm Olbers quan tâm đến saukhi ông hoàn thành việc hiệu chỉnh các thông số về quỹ đạo của sao chổi HalleyHai năm sau, Bessel đã rời khỏi hãng Kulenkamp, chuyển đến làm việc tại đài thiên văn Lilienthal Bremen, Đức. Tạiđây, ông đã cùng với James Bradly quan sát và hiệu chỉnh vị trí của hơn 3222 ngôi saoNăm 26 tuổi, Bessel được vua Frederick William III của nước Phổ bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn KönigsbergObservatoryBessel được coi là nhà một trong những nhà thiên văn học đầu tiên sử dụng phưng pháp đo thị sai để tínhra khoảng cách đến các ngôi sao. Năm 1838, ông sử dụng phép đo thị sai để xác định khoảng cách từ ngôisao 61 Cygnus đến Trái Đất là 10,3 năm ánh sáng, không chênh lệch nhiều so với con số được đo bằngphương pháp hiện đại là 11,4Ông là người có nhiều đóng góp lớn cho ngành thiên văn học và đã lập bản đồ vị trí của hơn ngôi dù không học đại học, Bessel đã trở thành một trong những nhà thiên văn nổi tiếng nhất trong nửa đầu thế kỷXIX. Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh asteroid 1552 Bessel5. Bức ảnh thiên văn đầu tiên 1839 -1840Henry Draper – sinh ra tại bang Virginia, đông Hoa Kỳ, là một thầy thuốc và nhà thiên vănhọc người Mỹ. Ông nổi tiếng là người tiên phong trong việc chụp hình các thiên thể. Ông tốt nghiệp đại học New Yorkkhi mới chỉ 20 tuổi. Ban đầu, Draper làm việc tại bệnh viện Bellevue, sau đó ông đảm nhiệm chức vụ giáo sư, trưởngkhoa y tại đại học New 1867, Draper kết hôn với Anna Mary Palmer, một phụ nữ giàu có và giao thiệp dù chỉ là một nhà thiên văn nghiệp dư, Henry Draper là một trong những người đi tiên phong trong việc ứngdụng kỹ thuật chụp ảnh vào quan sát thiên văn .Ông là người đầu tiên chụp hình Mặt Trăng thông qua một kínhviễn vọng vào mùa đông năm cũng là người đầu tiên chụp được ảnh quan phổ vạch hấp thụ của các ngôi sao 1872. Năm 1874, ông dẫnđầu đoàn nghiên cứu tiến hành chụp ảnh quá trình Sao Kim đi ngang qua Mặt Trời. Ngày 30/09/1880, Draper làngười đầu tiên chụp ảnh thành công tinh vân Orion với chiếc kính khúc xạ 11 inch, phơi sáng trong thời gian 50 chụp đầu tiên của tinh vân Orion, do giáo sư Henry Draper thực hiện vào năm 1880. Những ngôi sao lớn, có vẻsáng hơn tinh vân nhiều, là do sự phơi sáng quá đã được trao tặng nhiều phần thưởng và được bầu làm thành viên của nhiều tổ chức khoa học có uy qua đời khi còn rất trẻ bởi bệnh viêm màng phổi. Sau khi ông mất, vợ ông đã sáng lập ra huy chương HenryDraper, trao tặng cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực vật lý thiên văn. Bà cũng là người tài trợcho đài thiên văn Harvard hoàn thành bản danh mục gồm hàng trăm nghìn ngôi sao Henry Draper Catalogue. Đâycũng là bản danh mục đầu tiên phân loại các ngôi sao dựa trên kiểu phổ một cách có hệ thốngTên ông được đặt cho một crater trên Mặt Doppler Khám phá ra hiện tượng dịch bước sóng của các nguồn phát chuyểnđộng1842Christian Andreas Doppler – là nhà toán học và vật lý học , nhà thiên văn học người Áo. Ôngsinh và lớn lên ở Salzburg, Áo. Cha ông là một thợ xây đá. Gia đình có nghề truyền thống này từ năm 1674. Côngviệc làm ăn của cha ông phát đạt nên gia đình có một ngôi nhà ở Quảng trường Hannibal nay đổi tên là Quảngtrường Makart ở kết thúc học trình ở Đại học Vienne năm 1829, Doppler được bổ nhiệm làm phụ tá các môn toán học cấp cao vàcơ học cho giáo sư A Burg. Trong thời gian 4 năm làm phụ tá này, Doppler đã xuất bản 4 bài khảo luận về toán tháng 3 năm 1835, ông nhận được lời mời tới giảng dạy ở "Trường Kỹ thuật cấp hai" tại Prahatháng 2 năm 1841 ông được bổ nhiệm chức giáo sư. dạy ở "Trường Bách khoa Praha" nay là Đại học Kỹ thuật Sécở Praha .Tại đây ông xuất bản hơn 50 bài về toán học, vật lý học và thiên văn năm sau, ở tuổi 39, Doppler xuất bản tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, "Über das farbige Licht derDoppelsterne und einiger anderer Gestirne des Himmels" On the coloured light of the binary stars and someother stars of the heavens. Có một ấn bản sao chép với bản dịch sang tiếng Anh của Alec Eden Trong tácphẩm này, Doppler đặt nguyên tắc của mình thành định đề sau này gọi là Hiệu ứng Doppler là tần số quansát được của một bước sóng phụ thuộc vào tốc độ tương đối của nguồn và người quan sát, .Cụ thể là nếunguồn chuyển động ra xa người quan sát thì bước sóng của nó sẽ dài thêm ra và ngược lạivà ông đã cốgắng sử dụng khái niệm này để giải thích màu sắc của các sao đôi. Hiệu ứng Doppler về âm thanh đãđược Buys Ballot xác minh năm từ trần ngày ở tuổi 49 tại Venezia Ý, lúc đó thuộc Đế quốc Áo vì bệnh phổi7 . Galle phát hiện ra hành tinh thứ 8 của Hệ Mặt Trời là Sao Hải Vương nhờ áp dụng cáckết quả tính toán về sự lệch quỹ đạo SaoThiên Vương của Leverrier 1846Johann Gottfried Galle 9 tháng 6, 1812 - 10 tháng 7, 1910 là nhà thiên văn học người làm việc tại đài thiên văn Berlin dưới sự chỉ đạo của Johann Franz Encke. Năm 1838, Galle đã phát hiện ravành đai C của Sao Thổ23/09/1846 ông được Le Verrier chỉ lên bầu trời vị trí của một hành tinh chưa được biết tới mà nhà khoa học ngườiPháp đã tính toán ra trong một thời gian dài và ngay tối hôm đó, cùng với học trò , Galle đã phát hiện ra thiên thểđúng như Le Verrier dự đoán Hai ngày sau, thiên thể đó được xác nhận là một hành tinh nằm bên ngoài Sao ThiênVương. Galle đã trở thành người đầu tiên quan sát được Sao Hải Vương NeptuneNăm 1851, Galle đảm nhiệm vai trò giám đốc đài thiên văn 1894, cùng với con trai là Andreas Galle, ông đã xuất bản danh mục bao gồm 414 sao chổiKhi ông mất tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa và một vành đai của Sao HảiVương8. Năm 1851 lần đầu tiên 1 thí nghiệm chứng minh sự tự quay của Trái Đấtdo Foucault thực hiệnJean Bernard Léon Foucault các sách vật lý tiếng Việt thường ghi là Phu-cô 18 tháng 9, 1819 - 11 tháng 2, 1868là nhà vật lý học title="Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại"> Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại 66 2 11 Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người. Những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn có từ thời tiền sử. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Vào cuối thời đại đồ đá thiên niên kỷ 4 - 3 TCN, ở những nền văn minh cổ đại, quan sát bầu trời là công việc rất quan trọng của giới tăng lữ. Trước khi con người học được cách định vị trên Trái Đất và sáng tạo ra môn địa lý học, họ đã quan sát bầu trời và sản sinh ra những mô hình đầu tiên của nó. Thời điểm thiên văn học trở thành một môn khoa học theo cách nhìn nhận ngày nay đã diễn ra vào thế kỉ 16 nhờ công sức của Nicolaus Copernicus, kế tiếp là Galileo Galilei, Johannes Kepler, Isaac Newton. Một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với cuộc cách mạng thiên văn học của Nicolaus Copernicus là phát minh kính viễn vọng. Nhà thiên văn, họa phẩm của Johannes Vermeer, hiện vật bảo tàng Louvre, Paris Bài viết nàynằm trong loạt bàiLịch sử khoa học Nền tảng Chung Triết học toán học Xã hội học Thuật chép sử khoa học Ngụy khoa học Theo thời kỳ Thời kỳ sơ khai Thời cổ đại Thời Hồi giáo thời trung cổ Thời kì Phục Hưng Cách mạng khoa học Lãng mạn khoa học Khoa học tự nhiên Thiên văn học Sinh học Hóa học Địa chất học Vật lý học Toán học Đại số Hình học xts Những bước tiến của thiên văn học hiện đại đã xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 19 khi các phương pháp phổ học và chụp hình được sử dụng trong quan sát thiên văn. Những bước nhảy vọt của thiên văn học được ghi nhận vào những năm 40 của thế kỷ 20 nhờ các quan sát thiên văn vô tuyến và tiếp đó là sự kiện con người khắc phục được những cản trở của khí quyển Trái Đất khi quan sát toàn vẹn phổ của vũ trụ từ các vệ tinh nhân tạo.

thành tựu của thiên văn học