Bình Chánh là một huyện ngoại thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Huyện Bình Chánh được biết đến là khu vực có tốc độ đô thị hóa cao, dân cư đông đúc, nằm cửa ngõ chính phía tây và phía nam thành phố, với nhiều địa điểm tham quan, di tích lịch sử Tổ Lịch Sử - Địa lý - Tin học. Tổ Văn Thể Mỹ Khu dân cư Bình Hưng, Xã Bình Hưng, Huyện Bình Chánh, Tp.Hồ Chí Minh Điện thoại: 028.37581446 Email: c2ntb.binhchanh.tphcm@moet.edu.vn. 02837581446. 87 Thông tin công trình: Xây dựng Trạm ép rác kín xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh binhchanh. hochiminhcity.GOV.VN UBND Xã/Thị trấn Hội đồng Nghĩa vụ Quân sự huyện tổ chức xét duyệt nghĩa vụ quân sự năm 2023 Ban Kinh tế - Xã hội HĐND huyện giám sát công tác tuyển sinh năm học 2022-2023 tại Trường THCS Võ Văn Vân UBND huyện Bình Chánh tổ chức công bố, trao quyết định bổ nhiệm cán bộ Ông Phạm Ngọc Lộc được bổ nhiệm lại chức danh Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện Bình Chánh Công an huyện Bình Chánh tăng cường Năm 1961, khu vực Vườn Thơm được chia thành hai xã: Tân Bình và Tân Lợi, đến năm 1972 sáp nhập hai xã với nhau thành xã Bình Lợi. Năm 1960 do yêu cầu của cuộc kháng chiến, huyện Bình Chánh lại tách ra hai phần Nam, Bắc Bình Chánh: Nam gọi là Bình Chánh - Nhà Bè, Bắc nhập với Tân Bình gọi là Bình Tân. UYUt4. 38công, chống lại sự cai trị tàn bạo của thực dân Pháp, như tham gia phong trào chốngsưu cao thuế nặng 1930 –1931, tham gia vào cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ1940…Năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước nhà được độc lập,nhân dân Bình Chánh đã cùng nhân dân cả nước hồ hởi đón chào sự độc lập củanước nhà, nhưng thực dân Pháp lại quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa, nhân dânBình Chánh lại hăng hái đứng lên chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp; dưới sựlãnh đạo của Đảng, trên mảnh đất Bình Chánh anh hùng đã có những trận đánhoanh liệt, gây cho địch nhiều thiệt lại rất to lớn, nặng nề và góp phần làm cho tinhthần binh lính địch hoang mang, dao Chánh nổi tiếng với địa danh căn cứ Vườn Thơm - Bà Vụ, trở thành nơidừng chân các lực lượng vũ trang và cán bộ lãnh đạo cao cấp của ta. Từ “Vành đaiđỏ” này, quân dân ta đã xiết chặt vòng vây tấn công vào trung tâm đầu não của địchtại Sài Gòn. Đặc biệt trong trận chống càn tại Láng Le – Bàu Cò ngày 15/04/1948,quân dân Bình Chánh đã tạo nên một chiến công hiển hách, chiến công này đượcghi vào lịch sử vũ trang của quân đội nhân dân Việt Nam .Đến năm 1957, huyện Bình Chánh được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyệnTrung Huyện; và đến năm 1960, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, Bình Chánh lạitách ra Nam, Bắc Bình Chánh; Nam gọi là Bình Chánh - Nhà Bè, Bắc nhập với TânBình gọi là Bình chiến công hiển hách trong công cuộc chống lại sự xâm lược của thựcdân Pháp luôn được kế thừa và phát huy trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ,Bình Chánh lại trở thành căn cứ, là chỗ dựa của các lực lượng cách mạng đứng chântại đây, đồng thời cũng xuất phát từ đây, lực lượng cách mạng đã tổ chức nhiều trậnđánh thọc sâu vào cơ quan đầu não của địch tại Sài Gòn, điển hình như cuộc tổngtiến công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiếnlược và dẫn đến hiệp định Paris, đặc biệt hơn nữa là đã góp phần vào thắng lợi củachiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào tháng 04 năm 1975, quyết định số phận củaquân thù, thắng lợi này đã giải phóng hoàn toàn đất nước và giành lại độc lập cho 39dân tộc. Với những đóng góp và chiến công vẻ vang trong hai cuộc kháng chiếnchống Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Huyện Bình Chánh vinh dự đượcĐảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Huyện Anh 1972, tên gọi huyện Bình Chánh được phục hồi trên cơ sở hợp nhấtNam, Bắc Bình Chánh. Đến tháng 12 năm 2003, do sự tăng dân số cơ học và để tạođiều kiện thuận lợi để phát triển, Huyện Bình Chánh thực hiện Nghị định130/2003/NĐ ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc chiatách địa giới hành chánh. Ngày 02 tháng 12 năm 2003, Huyện Bình Chánh đã thựchiện xong việc chia tách. Trên cơ sở chia tách 4 xã – thị trấn Tân Tạo, Bình TrịĐông, Bình Hưng Hòa và Thị trấn An Lạc để thành lập 10 phường trực thuộc QuậnBình Tân. Sau lễ công bố thành lập Quận Bình Tân, Huyện Bình Chánh đã tổ chứclễ công bố thành lập Thị trấn Tân Túc. Sau khi tách Huyện, huyện Bình Chánh mớigặp nhiều khó khăn và nhiều vấn đề mới phát sinh do các công trình phúc lợi côngcộng, trung tâm hành chính, các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn đều tập trung vềquận Bình lại, trong thời chiến, quân dân Bình Chánh đã làm tròn nhiệm vụ, bámchắc xóm làng, giữ vững quê hương, mưu trí và sáng tạo tiêu hao và tiêu diệt nhiềusinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Đến thời bình, nhân dân Bình Chánhvẫn không ngừng chiến đấu, lao động và sáng tạo để góp phần xây dựng Huyệnngày một phát triển và đi lên, xứng đáng với danh hiệu cao quý do Đảng – Nhànước trao tặng “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân”. Nguồn Lịch sử đấutranh cách mạng huyện Bình Chánh Đặc điểm tự nhiên Nguồn Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyệnBình Chánh 2006 – 2010 và tầm nhìn đến 2020 Vị trí địa lý 40Bình Chánh là một trong năm huyện ngoại thành của TPHCM - mang tênBác Hồ vĩ đại. Bình Chánh nằm về phía Tây - Tây Nam của nội thành TPHCM,cách trung tâm thành phố 15km. Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn, phía Nam giáphuyện Bến Lức và huyện Cần Giuộc của tỉnh Long An, phía Tây giáp huyện ĐứcHòa tỉnh Long An, phía Đông giáp quận Bình Tân, quận 7, quận 8 và huyện vị trí là cửa ngõ phía Tây vào nội thành TPHCM, nối liền với các trụcđường giao thông huyết mạch của phía Nam như đường quốc lộ 1A, các tuyếnđường liên tỉnh lộ 10 nối liền với khu công nghiệp Đức Hoà Long An; đườngNguyễn Văn Linh nối từ quốc lộ 1A đến khu công nghiệp Nhà Bè và khu chế xuấtTân Thuận quận 7, vượt sông Sài Gòn đến quận 2 và đi Đồng Nai; tỉnh lộ 50 nốihuyện Bình Chánh với các huyện Cần Giuộc, Cần Đước Long An nên Bình Chánhtrở thành cầu nối giao lưu kinh tế và giao thương đường bộ giữa TPHCM vớivùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với các khucông nghiệp Đông Nam Bộ, ở vị thế này Bình Chánh đã và sẽ mở ra nhiều triểnvọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện trong tương lai .Ngoài ra Huyện còn có hệ thống sông rạch và kênh mương như sông CầnGiuộc, sông Chợ Đệm, kênh Ngang, kênh Cầu An Hạ, rạch Tân Kiên, rạch BàHom…nối với sông Bến Lức và kênh Đôi - kênh Tẻ, đây là tuyến giao thông đườngthủy nối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Với lợi thế này nếu môi trườngđược cải thiện trong tương lai có thể khai thác để phát triển dịch vụ du lịch Bình Chánh có diện tích tự nhiên khoảng ha 252,5528km2, bao gồm 15 xã và 1 thị trấn. Đó là thị trấn Tân Túc và các xã Tân Kiên, TânNhựt, An Phú Tây, Tân Quý Tây, Hưng Long, Qui Đức, Bình Chánh, Lê Minh Xuân,Phạm Văn Hai, Bình Hưng, Bình Lợi, Đa Phước, Phong Phú, Vĩnh Lộc A, Vĩnh LộcB . 41Hình Bản đồ hành chánh huyện Bình Địa hìnhBình Chánh có dạng địa hình nghiêng và thấp dần theo hai hướng Tây Bắc–Đông Nam và Đông Bắc–Tây Nam, với độ cao giảm dần từ 3m đến 0,3m so vớimực nước biển. Có ba dạng địa hình chính như sauDạng đất gò có cao trình từ 2 - 3m, có nơi cao đến 4m. Thoát nước tốt, phùhợp trồng cây rau màu và có thể bố trí các cơ sở công nghiệp, phân bố tập trung ởcác xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc đất bằng thấp có độ cao xấp xỉ 2m, phân bố ở các xã Tân Quý Tây, AnPhú Tây, Bình Chánh, Tân Túc, Tân Kiên, Bình Hưng, Phong Phú, Đa Phước, QuyĐức, Hưng Long. Dạng địa hình này phù hợp với trồng lúa hai vụ, cây ăn trái, raumàu và nuôi trồng thủy sản. 42Dạng trũng thấp, đầm lầy, có cao độ từ 0,5m - 1m, thuộc các xã Tân Nhựt,Bình Lợi, Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai. Vùng này thoát nước kém, hiện nay trồnglúa là chính, hướng tới sẽ chuyển trồng cây trái và dứa Thổ nhưỡngĐất ở huyện Bình Chánh đại thể có các loại chính sauNhóm đất xám có diện tích khoảng ha, chiếm 14,7%. Phân bố ở cácxã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B. Có thành phần cơ giới là cát pha thịt nhẹ, kết cấu rờirạc, đất bạc màu do bị tác động của quá trình rửa trôi và xói mòn, nếu cải tạo tốt thìrất thích hợp cho việc trồng hoa đất phù sa có diện tích khoảng chiếm 23%. Phân bố ở cácxã Tân Quí Tây, An Phú Tây, Bình Chánh, Hưng Long, Qui Đức, Đa Phước, đất cóthành phần cơ giới là sét, có độ mùn cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng như lúa,cây ăn trái, rau màu…Nhóm đất phèn có diện tích khoảng ha, chiếm 41,7%. Phần bố ởcác xã Tân Nhựt, Bình Lợi, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân. Đây là vùng đất thấptrũng, bị nhiễm phèn mặn, nên chỉ thích hợp với nhiều loại cây chịu được phèn mặnnhư giống lúa chịu phèn, dứa, cây lâm nghiệp, thời gian tới nếu hệ thống thủy lợiHóc Môn – Bắc Bình Chánh hoàn chỉnh đưa được nước ngọt về để rửa phèn trongnội đồng thì có thể tăng thêm một vụ lúa hoặc chuyển sang trồng một số cây ăn ra còn có một số loại đất khác nhưng chiếm tỷ lệ rất nhỏ, phần lớnphân bố ven sông Khí hậuNhiệt độ trung bình trong năm khoảng 260C. Cao nhất tháng tư là nhất vào tháng 12 là 240C. Lượng mưa trung bình từ 1300mm – 1700mm .Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao. Mùa khô 79,5 % và khoảng 80% - 90% vàomùa mưa. Độ ẩm không khí thấp nhất trong ngày vào khoảng độ 13h 48 và caonhất từ lúc 1h – 7h 95% . Nguồn nướcCác sông, rạch trên địa bàn Bình Chánh đều chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủytriều của ba hệ thống sông lớn Nhà Bè–Xoài Rạp, Vàm Cỏ Đông và sông Sài khô độ mặn xâm nhập vào sâu nội đồng, độ mặn khoảng 4‰, mùa mưa mựcnước cao nhất lên đến 1,1m, gây lụt cục bộ ở các vùng đất trũng của nước ngầm hai xã phía Bắc là Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B nguồnnước ngầm không bị nhiễm phèn, có thể khai thác nước phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp cũng như sinh hoạt, nhưng vào tháng nắng mực nước ngầmcũng tụt khá sâu trên 40m, các xã còn lại nguồn nước ngầm đều bị nhiễm phèn . Mạng lưới thủy vănHuyện có khoảng 10 sông rạch chính gồmBảng Các sông rạch chính của Huyện Bình ChánhTên sông , rạchSTTRộng m Sâu m 1Sông Cần Giuộc40 - 504-52Rạch Cây Khô30 - 404-53Rạch Cầu Già10 - 152-34Sông Chợ Đệm50 - 704-55Rạch Bầu Gốc25 - 303-46Rạch Nước Lên – Câu Suối40 - 454-57Kênh Ngang18 - 203-48Rạch Đôi14 - 152-39Rạch Sậy10 - 152-310Kênh C18 - 201-3 Nguồn Quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH huyện Bình Chánh 2006 - 2010và tầm nhìn đến năm 2020 44Phần lớn sông rạch của Huyện nằm ở khu vực hạ lưu, nên nguồn nước bị ônhiễm bởi nước thải từ các khu công nghiệp của thành phố đổ về như nước đen từkênh Tàu Hủ, kênh Tân Hóa – Lò Gốm, kênh Đôi, rạch Nước Lên, rạch Cần Giuộc…gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp đặc biệt là nuôi trồng thủy sảncũng như môi trường sống của dân cư . Tài nguyên khoáng sảnTuy không có tài nguyên khoáng sản quí hiếm, nhưng Bình Chánh có loại đấtcó thể dùng làm nguyên liệu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng với trữ lượngtương đối phong phú. Theo tài liệu của đoàn địa chất thành phố sơ bộ đánh giá nhưsauLoại thân quặng 1 sét gạch ngói nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lộc A và VĩnhLộc B, có diện tích khoảng 200ha, ước đoán trữ lượng khoảng 4 triệu thân quặng 2 cùng nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B, ướcđoán trữ lượng khoảng 20 triệu m3 .Loại thân quặng 3 sét gạch ngói nằm trên địa bàn xã Tân Túc, ước đoán trữlượng khoảng 10 triệu m3 .Ngoài ra còn có than bùn phân bố rải rác nằm dọc theo khu vực cầu An Hạ,nông trường Lê Minh Xuân…. Đặc điểm kinh tếNăm 2010, quy mô giá trị sản xuất các ngành kinh tế là 5 tỷ 384 triệu 671ngàn đồng theo giá cố định 1994, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân chung là21,03% vượt 5,03% so chỉ tiêu kế tế trên địa bàn huyện chủ yếu dựa vào hai khu vực công nghiệp vàthương mại – dịch vụ. Khu vực công nghiệp luôn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất,đến năm 2010, ngành công nghiệp chiếm tỉ trọng 74,46%, ngành thương mại dịchvụ 18,75%, ngành nông nghiệp 6,79% . 45Cơ cấu lao động nông nghiệp có sự chuyển dịch khá nhanh sang các ngànhcông nghiệp và thương mại dịch vụ, năm 2010 cơ cấu lao động làm việc trongngành nông nghiệp chiếm tỉ lệ 18,82% giảm 12,94%, ngành công nghiệp chiếm tỉlệ 43,57% tăng 4,87%, ngành dịch vụ chiếm tỉ lệ 37,61% tăng 8,07% so với lao động có việc làm bình quân giai đoạn 2004-2008 đạt giai đoạn từ năm 2006-2010 giải quyết việc làm mới cho laođộng. Năm 2006, tỷ lệ thất nghiệp là 5,7% đã kéo giảm xuống còn 5,4% vào năm2010 . Đặc điểm xã hộiChăm sóc y tế trên địa bàn Huyện trong thời gian qua đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể, chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao, công tácxã hội hóa về y tế đạt nhiều kết quả khả quan, công tác chăm sóc sức khỏe cộngđồng ngày càng phát triển sâu rộng, chất lượng chuyên môn ngày càng tăng, mạnglưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển. Ngành y tế luôn tập trung trênhai lĩnh vực là chăm sóc sức khỏe cộng đồng; nâng cao chất lượng khám chữa bệnhvà từng bước phát triển y tế chuyên sâu. Các chương trình chăm sóc sức khỏe banđầu thời gian qua hoạt động ổn định, đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho nhândân; số lượng bệnh nhân đến trạm y tế và bệnh viện Huyện ngày càng tăng bìnhquân lượt người/ngày. Số giường bệnh nội trú của bệnh viện từ 248 giườngvào năm 2006 tăng 358 giường vào năm 2010, đạt tỷ lệ 8,2 giường bệnh/ thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch 16,8 giường do chưa xây dựng bệnh viện đa khoamới; số bác sỹ trên dân tăng từ 2,59 bác sỹ vào năm 2006 lên 3,53 bác sỹvào năm 2010 chỉ tiêu kế hoạch là 5,4 bác sỹ / dân. Song song với hoạtđộng khám và chữa bệnh, ngành y tế tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu Quốcgia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS, khốngchế có hiệu quả các dịch bệnh như SARS, cúm gia cầm lây sang người. Chươngtrình an toàn vệ sinh thực phẩm đã đề ra nhiều hoạt động, biện pháp và đạt nhiều 46thành quả nhất định, tạo được sự nhận thức trong người dân về an toàn thực sở vật chất ngành y tế không ngừng được mở rộng, trang thiết bị y tế được quantâm đầu tư đúng mức, 15/16 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về chuyên môn, đến giữanăm 2010 đã xây dựng và đầu tư trang thiết bị cho 09/16 trạm y tế theo tiêu chuẩnquốc gia quy động giáo dục Hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông;đảm bảo 16/16 xã – thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng. Thời gian qua, do cósự tập trung nên ngành giáo dục đã hoạt động mạng lại nhiều hiệu quả, chất lượngđội ngũ giáo viên nâng lên rõ rệt. Hiệu suất đào tạo các bậc học mỗi năm đều lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở ổn định ở mức 99%. Cơ sở vậtchất ngành giáo dục từng bước được nâng cao và chuẩn hóa. Đến năm 2010, sốlượng trường lớp được xây dựng và nâng cấp mở rộng cho các cấp học đạt kết quảnhư sau Khối mầm non – mẫu giáo, từ năm 2006 đến cuối năm 2009 đã xây dựngđược 3 trường gồm Mẫu giáo Quỳnh Hương, xã Phạm Văn Hai; Mầm non HướngDương, xã Phong Phú; Mẫu giáo Hoa Hồng, xã Tân Quý Tây vốn ngoài ngânsách. Năm 2010 khởi công xây dưng 05 trường gồm Mẫu giáo Ngọc Lan, xã ĐaPhước vốn ngoài ngân sách; Mẫu giáo Hoa Lan, xã An Phú Tây vốn nước ngoàingân sách; Mẫu giáo xã Vĩnh Lộc B; Mẫu giáo Hoa Phượng, xã Vĩnh Lộc A; Mầmnon Hoa Thiên Lý, xã Vĩnh Lộc B vốn ngoài ngân sách .Khối tiểu học, từ năm 2006 đến cuối năm 2010 đã xây dựng mới 6 trườnggồm Tiểu học Bình Hưng, Tiểu học Phạm Văn Hai, Tiểu học Tân Quý Tây 3; Tiểuhọc Vĩnh Lộc B vốn ngoài ngân sách và Tiểu học Tân Kiên; thực hiện nâng cấp,mở rộng 4 trường Tiểu học Phạm Văn Hai, Tiểu học Vĩnh Lộc A, Tiểu học TânNhựt 6, Tiểu học Cầu Xáng. Khối trung học cơ sở, từ năm 2006 đến cuối năm 2009đã xây dựng mới 2 trường Trung học cơ sở Tân Nhựt, Trung học cơ sở Tân QuýTây; mở rộng 2 trường Trung học cơ sở Hưng Long, Trung học cơ sở Tân dựng mới Trường Trung học phổ thông Đa Phước và nâng cấp, mở rộngTrường Trung học phổ thông Lê Minh Xuân. So lộ trình thực hiện, tuy không đạtchỉ tiêu kế hoạch nhưng đây là nổ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị, điều này đã 47giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội củaHuyện trong thời gian đói giảm nghèo Đến cuối năm 2008, tổng số hộ nghèo còn lại trongchương trình có mức thu nhập dưới 6 triệu đồng/người/năm là 82 hộ, chiếm tỉ lệ0,11% so với tổng số hộ dân toàn huyện. Năm 2009, song song việc thực hiện giảmhộ nghèo, tăng hộ khá theo tiêu chí mới, huyện tập trung nâng thu nhập hộ nghèolên 6 triệu đồng/người/năm cho 82 hộ còn lại và đã hoàn thành kế hoạch giảm hộnghèo, tăng hộ khá giai đoạn Tác động của đô thị hoá đến phát triển kinh tế - xã hội huyện Ngành kinh Tăng trưởng các ngành kinh tếBảng Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Bình Chánh thời kỳ 2003 - 2010theo giá cố định năm 1994 Đơn vị Tỷ đồngNăm 2003Năm 2010Mức tăng BQ/ cấu % 100,00100,00Nông - lâm - thủy sản314,8414,272Cơ cấu % 15,177, cấu % 72,6266,70Thương mại - Dịch vụ253, cấu % 12,2125,60Tổng GTSX các ngành KTCông nghiệp - xây dựng12,43260,57140,66 Nguồn Phòng Kinh Tế huyện Bình Chánh 48Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn Huyện năm 2010 tỷ đồng, tăng tỷ đồng so với năm 2003. Giai đoạn 2003–2010,bình quân mỗi năm tăng 413,66 triệu đồng. Đây là một tốc độ tăng trưởng khá caoso với các huyện khác trên địa bàn thành 2003, giá trị sản xuất của khu vực nông–lâm–thủy sản đạt 314,8 triệuđồng, đến năm 2010 đạt 414,272 triệu đồng. Tính chung giai đoạn 2003–2010, tỉtrọng nông–lâm–thủy sản trên địa bàn huyện có xu hướng giảm .Khu vực công nghiệp–xây dựng là khu vực lớn nhất, là động lực tăng trưởngchính của kinh tế trên địa bàn huyện. Giá trị sản xuất của khu vực này vào năm2003 đạt con số tỷ đồng đến năm 2010 tăng tỷ đồng, đưa giá trịsản xuất của khu vực công nghiệp–xây dựng lên tỷ đồng. Tính chung giaiđoạn 2003–2010, bình quân mỗi năm giá trị sản xuất của khu vực công nghiệp–xâydựng tăng 260,57 tỷ đồng. Với tốc độ tăng trưởng cao trong những năm qua, vì vậymà tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực công nghiệp–xây dựng trên địa bàn huyệncó xu hướng ngày càng tăng lên và tăng khá mạnh nhờ sự tăng trưởng mạnh củangành xây dựng do quá trình ĐTH khá nhanh trên địa bàn huyện Bình Chánh nhữngnăm qua .Khu vực dịch vụ trên địa bàn huyện Bình Chánh có giá trị sản xuất năm 2003là 253,4 triệu đồng, đến năm 2010 là tỷ đồng, bình quân mỗi năm giá trịsản xuất ngành thương mại–dịch vụ tăng 140,66 triệu đồng. Nguyên nhân tăng dogiao thông thuận lợi, có một số trục giao thông huyết mạch, tạo cửa ngõ hành langcho ngành phát triển, bên cạnh đó các doanh nghiệp phát triển nhiều thu hút côngnhân lao động, dân nhập cư các tỉnh đến cư trú ngày một tăng .Kinh tế trên địa bàn huyện chủ yếu dựa vào hai khu vực công nghiệp và Cơ cấu các ngành kinh tếBiểu đồ cho thấy, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông–lâm–thủy sản cótốc độ tăng trưởng thấp nhất và có xu hướng ngày càng giảm mạnh trong cơ cấu giá Thời phong kiếnVào thời nhà Nguyễn độc lập[3], vùng đất Bình Chánh ngày nay thuộc địa bàn hai huyện Tân Long và Bình Long của phủ Tân Bình, một phần huyện Phước Lộc thuộc phủ Tân An cùng thuộc tỉnh Gia Pháp thuộcVới Hòa ước Nhâm Tuất 1862, triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa. Chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh này thành 13 thành các hạt thanh tra inspection, do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ inspecteur des affaires indigeânes đứng đầu, nhưng tạm thời vẫn giữ cơ cấu phủ huyện khi chiếm được toàn bộ Nam Kỳ, năm 1868, chính quyền thực dân Pháp bãi bỏ các đơn vị hành chính phủ, huyện, phân chia lại toàn bộ cõi Nam Kỳ. Các hạt thanh tra về sau cũng được đổi thành hạt tham biện arrondissement, do các Chánh tham biện administrateur người Pháp đứng đầu. Tuy vậy, chính quyền thực dân Pháp vẫn giữ lại cơ cấu hành chính cấp thấp như tổng, xã Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, tỉnh Chợ Lớn được thành Châu Thành thuộc tỉnh Chợ Lớn đơn vị hành chính riêng biệt với thành phố Chợ Lớn thành lập năm 1918 với lỵ sở đặt chung trong thành phố Chợ Lớn, đến năm 1930 đổi tên thành quận Trung Quận hay còn gọi là quận Trung ương. Từ ngày 4 tháng 2 năm 1947, đổi thành quận Gò Đen, do lỵ sở dời về thị tứ mang tên này tuy nhiên tên gọi Trung Quận vẫn thông dụng hơn. Quận có bốn tổng Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng, Long Hưng Trung và Long Hưng Bình Xuyên thuộc tỉnh Chợ Lớn tồn tại trong các thời gian từ ngày 2 tháng 5 năm 1933 đến tháng 12 năm 1944 và từ tháng 1 năm 1953 đến ngày 22 tháng 10 năm 1956, do tách ra tổng Tân Phong Hạ của quận Trung Quận. Sau đó quận Bình Xuyên giải thể, trả lại tổng Tân Phong Hạ cho quận Trung Quận như kháng chiến chống Pháp, về hành chính chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi quận thành huyện, làng thành xã; bỏ cấp tổng. Chính vì vậy, quận Trung Quận cũng được gọi là huyện Trung đoạn 1956-1975Việt Nam Cộng hòaNgày 22 tháng 10 năm 1956, theo Sắc lệnh 143/NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, tỉnh Tân An hợp nhất với phần lớn đất đai tỉnh Chợ Lớn để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh Long 8 tháng 4 năm 1957 ba tổng Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng và Long Hưng Trung thuộc quận Gò Đen quận Trung Quận của tỉnh Chợ Lớn giải thể được sáp nhập vào tỉnh Gia Định, lập nên quận Bình Chánh mới. Riêng tổng Long Hưng Hạ cùng quận Gò Đen quận Trung Quận cũ, nhập vào quận Bến Lức mới lập của tỉnh Long Bình Chánh lấy theo tên gọi của xã Bình Chánh vốn là nơi đặt quận lỵ của quận này. Năm 1957, quận Bình Chánh có 03 tổng với 15 xãTổng Tân Phong Hạ có 03 xã An Phú, Bình Hưng và Phong Đước;Tổng Long Hưng Thượng có 05 xã An Lạc, Bình Trị Đông, Tân Kiên, Tân Nhựt và Tân Tạo;Tổng Long Hưng Trung có 07 xã An Phú Tây, Bình Chánh, Đa Phước, Hưng Long, Quy Đức, Tân Quý Tây và Tân Túc riêng 3 xã Hưng Long, Quy Đức, Tân Quý Tây trước đây thuộc tổng Phước Điền Tượng, quận Cần Giuộc.Từ năm 1962 chính quyền bỏ dần, đến năm 1965 bỏ hẳn cấp hành chính đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, quận Bình Chánh có 15 xã trực thuộc An Lạc, An Phú, An Phú Tây, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình Trị Đông, Đa Phước, Hưng Long, Phong Đước, Quy Đức, Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Quý Tây, Tân Tạo, Tân quyền Cách mạngVề phía chính quyền Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cuối năm 1957 lập huyện Bình Chánh thay thế huyện Trung Huyện giải thể. Địa bàn huyện mới này chính là quận Bình Chánh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cộng thêm khu vực Vườn Thơm, là một phần xã Đức Hòa, quận Đức Hòa, thuộc tỉnh Long An từ tháng 10 năm 1963 thuộc tỉnh Hậu Nghĩa theo phân chia hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Năm 1961, khu vực Vườn Thơm được chia thành hai xã Tân Bình và Tân Lợi, đến năm 1972 sáp nhập hai xã với nhau thành xã Bình 1960 do yêu cầu của cuộc kháng chiến, huyện Bình Chánh lại tách ra hai phần Nam, Bắc Bình Chánh Nam gọi là Bình Chánh - Nhà Bè, Bắc nhập với Tân Bình gọi là Bình Tân. Đến năm 1972, huyện Bình Chánh được phục hồi trên cơ sở hợp nhất Nam, Bắc Bình năm 1975 đến naySau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Theo nghị quyết ngày 9 tháng 5 năm 1975 của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam thành phố Sài Gòn - Gia Định, huyện Bình Chánh được thành lập, bao gồm quận Bình Chánh, hai xã Vĩnh Lộc và Bình Hưng Hòa của quận Tân Bình cũ và xã Bình Lợi là phần đất cắt từ xã Đức Hòa, quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa cũ thời Việt Nam Cộng hòa sáp nhập với nhau.Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định. Theo đó, vẫn giữ nguyên huyện Bình Chánh cũ có từ năm 1975. Lúc này, chính quyền sáp nhập hai xã An Phú và Phong Đước với nhau, lập nên xã Phong Phú. Như thế huyện Bình Chánh có 17 xã An Lạc, An Phú Tây, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình Hưng Hòa, Bình Lợi, Bình Trị Đông, Đa Phước, Hưng Long, Phong Phú, Quy Đức, Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Quý Tây, Tân Tạo, Tân Túc, Vĩnh 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Huyện Bình Chánh trở thành huyện trực thuộc Thành phố Hồ Chí 13 tháng 4 năm 1977, thành lập hai xã mới Phạm Văn Hai và Lê Minh Xuân thuộc huyện Bình Chánh, từ phần đất cắt ra của xã Bình Lợi cùng 12 tháng 9 năm 1981, huyện Bình Chánh chuyển xã An Lạc thành thị trấn An 1 tháng 11 năm 1985, huyện Bình Chánh chia xã Vĩnh Lộc thành hai xã Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B. Như thế lúc này huyện Bình Chánh có 01 thị trấn An Lạc và 19 xã An Phú Tây, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình Hưng Hòa, Bình Lợi, Bình Trị Đông, Đa Phước, Hưng Long, Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, Phong Phú, Quy Đức, Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Quý Tây, Tân Tạo, Tân Túc, Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc 05 tháng 11 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 130/2003/NĐ-CP[4] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bình Chánh để thành lập quận Bình Tân và các phường trực thuộc, thành lập thị trấn Tân Túc thuộc huyện Bình Chánh. Nội dung như sauThành lập quận Bình Tân trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông, Tân Tạo và thị trấn An Lạc thuộc huyện Bình Chánh. Quận Bình Tân có ha diện tích tự nhiên và nhân lập thị trấn Tân Túc - thị trấn huyện lị huyện Bình Chánh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Tân Túc. Thị trấn Tân Túc có 856,41 ha diện tích tự nhiên và nhân khi điều chỉnh địa giới hành chính thành lập quận Bình Tân và thành lập thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh còn lại ha diện tích tự nhiên và nhân khẩu; có 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã Phong Phú, Đa Phước, Quy Đức, Hưng Long, Tân Quý Tây, Bình Chánh, An Phú Tây, Tân Kiên, Tân Nhựt, Bình Lợi, Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, Bình Hưng, Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B và thị trấn Tân Túc.

lịch sử huyện bình chánh